Người giám hộ đương nhiên là gì?


Người giám hộ đương nhiên là khái niệm pháp lý quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp không có sự chỉ định giám hộ từ cơ quan nhà nước. Hiểu rõ vai trò và quy định liên quan đến chủ đề này hỗ trợ gia đình xử lý các vấn đề pháp lý kịp thời, tránh rủi ro tranh chấp. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết và chính xác để bạn nắm bắt đầy đủ. Cùng ACC Đà Nẵng tìm hiểu sâu hơn.

Người giám hộ đương nhiên là gì?
Người giám hộ đương nhiên là gì?

1. Người giám hộ đương nhiên là gì?

Người giám hộ đương nhiên được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 là người được xác định trực tiếp theo thứ tự pháp luật quy định mà không phải thông qua thủ tục cử, chỉ định người giám hộ. Đối với người chưa thành niên thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47, người giám hộ đương nhiên được xác định theo thứ tự tại Điều 52; đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người giám hộ đương nhiên được xác định theo Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo đó, cha mẹ không phải là người giám hộ đương nhiên của mọi người con chưa thành niên. Chế định giám hộ đương nhiên chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên thuộc trường hợp phải có người giám hộ theo Điều 47. Khi không có người giám hộ đương nhiên theo Điều 52, 53 thì việc cử hoặc chỉ định người giám hộ mới được thực hiện theo Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015.

Việc xác định người giám hộ đương nhiên giúp bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ và tạo cơ sở để người giám hộ thực hiện việc chăm sóc, đại diện và quản lý tài sản theo quy định pháp luật.

2. Ai có thể là người giám hộ đương nhiên?

Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự tại Điều 52. Trước hết, anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu người này không đủ điều kiện thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ. Nếu không có người thuộc trường hợp này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu tiếp tục không có thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Để làm người giám hộ, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Vì vậy, nếu người đứng trước trong thứ tự không đủ điều kiện thì việc giám hộ được xác định đối với người tiếp theo đủ điều kiện.

Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 xác định người giám hộ đương nhiên theo thứ tự: vợ hoặc chồng; người con cả hoặc người con tiếp theo đủ điều kiện trong trường hợp cha, mẹ không đủ điều kiện; nếu người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc những người này không đủ điều kiện thì cha, mẹ là người giám hộ.

3. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên

Người giám hộ đương nhiên có quyền đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự theo phạm vi pháp luật quy định, đồng thời quản lý tài sản của người được giám hộ. Người giám hộ phải thực hiện việc giám hộ vì quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, không được lạm dụng quyền của mình để phục vụ lợi ích riêng.

Theo Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Dân sự 2015, tùy từng đối tượng được giám hộ, người giám hộ có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, đại diện và quản lý tài sản của người được giám hộ. Đối với tài sản, Điều 59 quy định người giám hộ được thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ; một số giao dịch đối với tài sản có giá trị lớn phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Đồng thời, giao dịch giữa người giám hộ và người được giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ về nguyên tắc vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

>> Đọc thêm: Người giám hộ đương nhiên có phải đăng ký không?

4. Sự khác biệt giữa người giám hộ đương nhiên và người giám hộ được chỉ định

Người giám hộ đương nhiên được xác định trực tiếp theo thứ tự quy định tại Điều 52 và Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 khi đáp ứng đủ điều kiện luật định. Trường hợp có nhiều người cùng thuộc một hàng theo quy định thì pháp luật cho phép thỏa thuận cử một hoặc một số người làm người giám hộ trong những trường hợp được quy định.

Trong khi đó, trường hợp người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên, Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ; trường hợp có tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Như vậy, không phải mọi trường hợp giám hộ đều do Tòa án trực tiếp chỉ định.

Người giám hộ đương nhiên và người giám hộ được cử, chỉ định đều có quyền, nghĩa vụ tương ứng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Điểm khác biệt chủ yếu nằm ở căn cứ xác lập tư cách người giám hộ: một bên được xác định theo thứ tự luật định, bên còn lại được cử hoặc chỉ định khi không có người giám hộ đương nhiên hoặc thuộc trường hợp pháp luật quy định.

5. Câu hỏi thường gặp

Người giám hộ đương nhiên có được thay đổi không?

Có. Người giám hộ đương nhiên có thể được thay đổi nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015, như không còn đủ điều kiện làm người giám hộ, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hoặc có yêu cầu thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.

Người giám hộ đương nhiên có quyền quản lý tài sản của con cái không?

Người giám hộ chỉ quản lý tài sản khi người con là người được giám hộ. Theo Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015, việc quản lý và giao dịch tài sản phải nhằm bảo đảm lợi ích của người được giám hộ; một số giao dịch đối với tài sản có giá trị lớn phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ đương nhiên có trách nhiệm gì khi con cái gây thiệt hại?

Theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người được giám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ có thể phải dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu tài sản không đủ, người giám hộ có thể phải dùng tài sản của mình, trừ trường hợp chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ.

Người giám hộ đương nhiên là chế định quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên thuộc trường hợp phải có người giám hộ và người mất năng lực hành vi dân sự. Việc xác định đúng người giám hộ theo thứ tự luật định, đáp ứng điều kiện làm người giám hộ và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ giúp hạn chế tranh chấp và bảo đảm lợi ích của người được giám hộ. Liên hệ ACC Đà Nẵng để được tư vấn chi tiết về người giám hộ đương nhiên và các vấn đề pháp lý liên quan.


    HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

    Để lại một bình luận

    Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *