Quy định về thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm


Thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại cũng như các bên tham gia tố tụng. Việc tuân thủ đúng quy định giúp các bên kịp thời thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị và duy trì tính nghiêm minh của hoạt động tư pháp. Hiểu rõ quy định này còn hỗ trợ người dân chủ động trong quá trình theo dõi vụ án. Cùng ACC Đà Nẵng tìm hiểu chi tiết vấn đề này.

1. Quy định về thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm

Thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm là 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Quy định này được nêu tại khoản 1 Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15.

Theo đó, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp và người bào chữa; đồng thời gửi bản án cho các cơ quan, chủ thể có liên quan theo quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo bị xét xử vắng mặt trong một số trường hợp theo Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, bản án có thể phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo trong cùng thời hạn 10 ngày.

2. Các bên được nhận bản án hình sự sơ thẩm

Theo khoản 1 Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện việc giao, gửi hoặc thông báo bản án cho các chủ thể theo quy định.

Cụ thể:

  • Giao bản án cho: bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp và người bào chữa.
  • Gửi bản án cho: bị cáo bị xét xử vắng mặt trong trường hợp luật định, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm giam hoặc Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo.
  • Thông báo bằng văn bản cho: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập.
  • Cấp bản sao hoặc trích lục bản án: cho đương sự hoặc người đại diện của họ đối với những phần có liên quan.

Trường hợp bản án sơ thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản hoặc quyết định về dân sự thì Tòa án còn phải gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền theo quy định tại Điều 262.

Xem thêm: Khi nào Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm?

3. Hậu quả pháp lý khi không tuân thủ thời hạn gửi bản án

Việc Tòa án chậm giao, gửi bản án hình sự sơ thẩm so với thời hạn quy định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự có thể ảnh hưởng đến việc các chủ thể thực hiện quyền tố tụng, đặc biệt là quyền kháng cáo. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ chậm gửi bản án thì đương nhiên mất quyền kháng cáo.

Theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa, thời hạn được tính từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Do đó, khi bản án được giao, gửi chậm, cần xem xét từng trường hợp cụ thể, bao gồm việc người có quyền kháng cáo có mặt hay vắng mặt tại phiên tòa và thời điểm họ nhận được hoặc được niêm yết bản án.

Nếu quá thời hạn kháng cáo nhưng có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến người có quyền kháng cáo không thể thực hiện quyền trong thời hạn luật định thì có thể đề nghị xem xét việc kháng cáo quá hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xem thêm: Quy định kháng cáo bản án sơ thẩm

4. Cách tính thời hạn và các trường hợp đặc biệt

Theo khoản 1 Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao, gửi bản án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn này được xác định theo quy định về tính thời hạn tại Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khi tính thời hạn theo ngày, thời hạn được tính theo ngày và kết thúc vào 24 giờ của ngày cuối cùng của thời hạn.

Ví dụ, nếu bản án được tuyên vào ngày 01/9 thì thời hạn 10 ngày được tính theo quy định về thời hạn tố tụng và kết thúc vào 24 giờ của ngày cuối cùng trong thời hạn.

Trường hợp người có quyền kháng cáo hoặc các chủ thể khác nhận bản án vào thời điểm khác nhau thì cần phân biệt thời hạn Tòa án phải giao, gửi bản án với thời hạn thực hiện quyền kháng cáo. Đây là hai thời hạn tố tụng khác nhau và được xác định theo các quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngoài ra, nếu bản án có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai thì việc sửa chữa, bổ sung phải được thực hiện theo Điều 261 Bộ luật Tố tụng hình sự; việc sửa chữa, bổ sung được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262.

5. Một số lưu ý về thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm

Khi nhận hoặc chờ nhận bản án, người tham gia tố tụng cần lưu ý một số vấn đề quan trọng sau:

  • Thời hạn giao, gửi bản án: Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án theo khoản 1 Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Không đồng nhất thời hạn gửi bản án với thời hạn kháng cáo: Thời hạn Tòa án giao, gửi bản án và thời hạn để người có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, không nên mặc nhiên cho rằng thời hạn kháng cáo chỉ bắt đầu khi bản án được gửi đến.
  • Trường hợp xét xử vắng mặt: Đối với một số trường hợp bị cáo được xét xử vắng mặt, pháp luật quy định hình thức gửi hoặc niêm yết bản án riêng. Người có liên quan cần xác định đúng trường hợp của mình để tính thời hạn tố tụng.
  • Bản án có quyết định về tiền, tài sản hoặc dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm còn phải gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong các trường hợp được Điều 262 quy định.
  • Chậm nhận bản án: Nếu quá thời hạn luật định mà chưa nhận được bản án, người có quyền và lợi ích liên quan có thể liên hệ Tòa án đã xét xử để kiểm tra việc giao, gửi bản án và chủ động bảo đảm quyền tố tụng của mình.

6. Câu hỏi thường gặp

Thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm có được tính ngày nghỉ lễ không?

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn mười ngày chỉ tính ngày làm việc, không tính ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ cuối tuần. Nếu ngày cuối cùng rơi vào ngày nghỉ thì thời hạn được tính sang ngày làm việc tiếp theo. Các bên cần theo dõi lịch làm việc của Tòa án để nắm bắt chính xác.

Bị cáo có quyền yêu cầu gửi lại bản án nếu bị mất không?

Bị cáo hoặc người đại diện có quyền yêu cầu Tòa án cấp lại bản án khi bị mất hoặc hư hỏng. Tòa án có trách nhiệm cấp lại trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc cấp lại phải được ghi vào hồ sơ vụ án để đảm bảo tính minh bạch.

Viện kiểm sát có thể kháng nghị nếu nhận bản án chậm không?

Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị trong thời hạn luật định kể từ ngày nhận được bản án. Tuy nhiên, việc nhận chậm có thể ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Các bên nên chủ động liên hệ Tòa án để theo dõi tình hình gửi bản án.

Thời hạn gửi bản án hình sự sơ thẩm là quy định quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi của mọi bên trong vụ án hình sự. Việc nắm rõ và tuân thủ đúng quy định này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp. Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc hỗ trợ pháp lý liên quan, hãy liên hệ ACC Đà Nẵng để được hỗ trợ nhanh chóng và chuyên nghiệp.


    HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

    Để lại một bình luận

    Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *